Tiếng bè phái cò trên thuyền rớ ông Đô (Tiếp theo và hết)

Sau khi tái lập phường Kỳ Xuân, sự kìm kẹp của tề ngụy địa phương có nới lỏng đôi chút, song song Quyết nghị 15 của Trung ương Đảng có mặt trên thị trường như một tia sáng soi rọi đến những hầm sâu trong vùng địch hậu như cái ốc đảo này. Lập tức nơi đây sinh ra những chàng trai đi đầu. Có 11 thanh niên Kỳ Xuân bứt nhà dancing núi, nhập cuộc xây dựng những lực lượng bé dại lực lượng trang bị tuyên truyền trước tiên của thức giấc, của huyện trong thời chống Mỹ.

 

Giữa lúc địch thủ vây ráp tứ bề, trong khoảng một đảng bộ có hàng chục ngàn đảng viên trong thời Việt Minh, đến lúc này cán bộ thoát ly của quận Tam Kỳ chỉ còn mười mấy người. Để bảo tồn đội ngũ, mưu cầu cho công cuộc kháng chiến trường kỳ, các bạn hữu phải lùi sâu về phía núi xa tít, mà đi trót lọt tới trên đó đâu phải chuyện dễ. Ông Đô, ông Diệu được đơn vị cắt cử chèo ghe đưa đám tuổi teen thoát ly. Ông Đô có chiếc thuyền rớ lớn lao và chiếc ghe ngao nhỏ xíu, không thể chở được mười mấy người. Phải lấy chiếc ghe ngang của ông Diệu mới được. Trong đêm tối 11 tuổi teen, mỗi người vác một chiếc đòn xóc trá hình người đi tậu tranh, cắt lá, giã biệt gia đình, lẩn tham gia đêm hôm xuống bờ sát, khiêu vũ lên ghe. Ông Đô chống chèo, ông Diệu chèo giữa, tuổi teen thoát ly nằm sát dưới mạn thuyền. Nhị Đô ngồi phía trước cầm cây đồng minh cò kéo lên những khúc thủ thỉ, chiếc vợt xúc cá nằm dọc theo đầu mũi thuyền. Đã quá quen với tiếng bè bạn cò của ông Đô và con gái, địch chẳng chút nghi hoặc. Ra khỏi tầm giữ vững của địch, theo con đường dây bố trí trước, ông Đô cho chèo thuyền quật ngược về phía cồn Ngao - Kỳ Vinh, nơi bãi vắng bao la sẽ có người đón. Các anh xuống ghe, chuyển tiếp qua Kỳ Chánh, băng quốc lộ đoạn trong chợ Cây Trâm, lên Kỳ Thạnh, lách địch đi tiếp cả ngày tuyến phố đến mật khu gặp gỡ các ông Mười Chấp, Hồ Truyền, Ngô Độ, Tư Chuyển...

Sau đợt tuổi teen thoát ly hàng loạt, tên Lê Quang Phận, theo dõi bình an khu Nam Tam Kỳ hậm hực ra lệnh bắt phổ thông một nửa nghi tấn công đập, kìm hãm tù. Qua đợt khủng bố trắng này chi bộ Kỳ Xuân mất liên lạc với cấp trên. Nhưng những hạ tầng kiên trung như ông Đô, bà Cường... phải nằm lặng, chờ thời cơ tiếp diễn nuôi giấu, hỗ trợ cách mạng.

Bốn tuần 11 năm 1959, Thị xã ủy Tam Kỳ phân công bạn bè Nguyễn Quang (Thiều), cán bộ hội tụ tham gia Nam về quê Kỳ Xuân bé xíu dựng lại phong trào cách mạng. Chiếc ghe ngao của ông Đô lại nhiều lần đưa ông Thiều và đội công tác trong khoảng Khương Đại, Khương Vĩnh về xâm nhập gây dựng cơ sở.  

Ông Thiều nhỏ dại hơn ông Đô, nhưng đã cùng hoạt động cách mạng từ thời trước 1945 và suốt trong 9 năm binh cách tại đất Nguyễn Chỉ (Kỳ Xuân). Xa cách bao năm trời, hiện nay ông Thiều trở lại quê hương gặp gỡ ông Đô, phổ thông hôm trú ngụ trên thuyền rớ ông Đô, được cả mái ấm ông Đô che chở, đưa đón. Tình bạn giữa nhị người càng trở thành thân thiết. Lúc này ông Đô sinh được thằng nam nhi thứ tám, ông nói với vợ: “Tui đặt tên nó là Thiều bà nghe. Anh Thiều là người thoát ly, là cán bộ cách mệnh sống nay đây mai đó. Mai mốt anh đi khỏi thì bản thân gọi tên con là nhớ đến ảnh, nhớ cách mạng bà nghe...”. Thằng con tên Thiều ấy là biểu tượng, là hiện thân mật bạn, tình bạn bè giữa nhì đội viên cách mạng đã được cố kết, tôi luyện trong những tháng 5 cùng sinh cùng tử trên sông nước quê hương.

Thời cơ đã chín muồi, đúng 13 giờ chiều ngày 7 tháng 11 năm 1964, được sự hỗ trợ của đội ngũ trên, Đội công tác Kỳ Xuân do ông Trằn Xuân Thư làm Đội trưởng đã khởi động dân chúng nổi dậy phóng thích quê hương. Đêm trước ngày nổi dậy, ông Đô túa luôn mui thuyền rớ, tháo luôn giàn rớ lấy ghe đưa đón quân nhân, cán bộ trên về. Cơ sở trong các xóm làng sẵn sàng hầm kín đáo, nhận chiến lược nuôi giấu cán bộ, không khí tự phóng thích nấu nung hừng hực trong từng làng xóm, từng mái nhà, từng ghe thuyền trên khúc sông nước này. Nhưng đối phương không hề hay nhân thức.

Chi bộ mật do ông Đô làm cho bí thơ, bà Cường, bà Đoát khiến chi ủy viên nhận lệnh của bằng hữu Võ Thứ - Phó Bí thư Thị xã ủy Nam Tam Kỳ và bạn bè È Xuân Thư - Bí thơ phố Kỳ Xuân chỉ đạo các đồng chí cơ sở vật chất nội tuyến rủ trung đội nghĩa binh tham gia quán ăn nhậu. Tới lúc chúng say mèm, bí mật thu hết súng. Quân nhân, du kích phục sẵn xông vào bắt gọn.

Toàn dân nổi dậy, các ngả trục đường trên ốc đảo Kỳ Xuân đều bị du kích, bộ đội ngăn chặn, toàn thể đồng minh ngụy quyền từ xã tới thôn đành phải quy hàng, đền tội. Kỳ Xuân được giải phóng, quần chúng. # Kỳ Xuân vô cùng phấn chấn, khí thế cách mệnh dâng cao bất tỉnh trời.

Ngày hôm sau, địch đưa quân tái chiếm Kỳ Xuân. Trong trận giao đấu với địch đầu tiên trên đất Kỳ Xuân mới phóng thích, ông Đô bị thương, được chuyển về chiến khu nhân tố trị. Lúc này ông đã lớn tuổi, chẳng thể xông pha như thời trẻ trai ở tuyến trước, phải ở lại chiến khu, nhẫn nhịn gian nan tiếp tục tham gia đao binh. Bốn người con của ông Đô cũng thoát ly lên chiến khu, nhưng bà Đô và người con gái thứ sáu của ông vẫn tiếp tục vừa bơi chiếc ghe ngao đi thả lưới kiếm sống vừa bí mật dùng chiếc thuyền rớ và tiếng bè bạn cò để che mắt địch, đưa đón cán bộ cách mệnh đi và về vùng căn cứ lõm Kỳ Xuân cho mãi tới ngày toàn thắng.

Hoàn thành chiến tranh, ông Đô đã cập kề tuổi sáu mươi. Ngoảnh lại, ông Đô đã bỏ ra hơn nửa đời người cho cuộc chiến. Cả nhà ông cũng vét tinh khiết người cho kháng chiến. Bây giờ ông Đô đã trở thành người thiên cổ hủ, nhưng trên đất Tam Giang hero, trong tâm não của lớp người loạn lạc Tam Giang vẫn còn lưu giữ ký ức về “tiếng bè cánh cò dấu hiệu” đón đưa cán bộ của thuyền rớ ông Đô trên sông nước Trường Giang, trong những năm tháng cách mệnh ám muội nhất...

Truyện ký của PHẠM THÔNG

.


Đọc thêm: váy ngủ mùa đông
Share on Google Plus
    Blogger Comment
    Facebook Comment

0 nhận xét:

Đăng nhận xét